Thứ Ba, 4 tháng 1, 2022

Tài sản bị “mắc kẹt” – Tiềm năng của các khu đất trống và dự án bị bỏ hoang

“Gần thứ bạn cần!” đó là một câu thần chú về nơi ở. Có hoặc gần những thứ bạn cần là quy tắc đầu tiên của việc lựa chọn nơi đáng sống. Và là quy tắc thứ hai, thứ ba!

Khả năng tiếp cận các dịch vụ và nơi làm việc trong một khoảng thời gian ngắn là điều quan trọng nhất. Khả năng tiếp cận tốt đến từ việc có nhiều loại dịch vụ đan xen trong khu ở của bạn. Vì vậy, bạn không cần phải đi khắp TP để đến được những nơi có thứ bạn cần.

Đại dịch COVID-19 đã tạo đà cho sự phát triển ý tưởng “Thành phố nhỏ gọn” nhân rộng trên toàn cầu. Một trong những khía cạnh chính của ý tưởng này là tập trung vào khả năng tiếp cận nhu cầu thiết yếu của mọi người và đặt nó lên hàng đầu trong các quyết sách về phát triển TP. Việc bổ sung các nhu cầu thiết yếu đến từng khu vực cộng đồng sinh sống là chìa khóa để các TP chống chọi – phục hồi trong và sau đại dịch COVID-19.

Vậy nhu cầu thiết yếu của từng cộng đồng dân cư là gì? Làm thế nào để bổ sung các nhu cầu thiết yếu vào các khu dân cư hiện hữu, khi mà không thể thêm diện tích vào trong đó? Làm thế nào để có thể tiếp cận với không gian công cộng có nhu cầu thiết yếu đó? Làm thế nào…?

Các nhóm nhà ở với không gian công cộng bên trong, TP Madrid – Tây Ban Nha)

Những bài học kinh nghiệm trên thế giới

Dự án vườn cộng đồng tại số 36 đường Galileistraat (TP The Hague – Hà Lan). Ban đầu nó là một trường học Công giáo, nhưng trong những năm qua ít được sử dụng. Người dân tự thành lập một nhóm sáng kiến tìm kiếm sự ủng hộ của cư dân địa phương, chính quyền TP và chủ sở hữu của khu đất. Sau hơn hai năm, họ đã thành công trong việc huy động được 1,4 triệu euro để mua lại khu đất trống, cải tạo nó và thiết kế một khu vườn cộng đồng. Nhiều hoạt động khác nhau được tổ chức trong vườn, như: Hội thảo, triển lãm, sân chơi trẻ em, hội chợ ẩm thực cho người dân địa phương… Khu vườn được duy trì bởi các tình nguyện viên, cũng là cư dân địa phương, họ thành lập lên các nhóm: “Nhóm Xanh” quản lý và duy trì khu vườn; “Nhóm chìa khóa” đảm bảo rằng khu vườn được mở và đóng cửa đúng giờ; “Nhóm nấu ăn” tổ chức các bữa tiệc tối trong khu phố; “Nhóm công việc kỳ quặc” sửa chữa các vật liệu và thiết bị được sử dụng cho khu vườn; “Nhóm sự kiện” cũng tổ chức một loạt các cuộc họp, hoạt động văn hóa cho người dân. Và khu vườn đã thực sự trở thành một không gian công cộng đáp ứng mọi nhu cầu cơ bản của cộng đồng.

Dự án vườn cộng đồng ở TP The Hague – Hà Lan

Dự án Công viên Tanner Springs (TP Portland, bang Oregon – Mỹ) được kiến thiết trên một khu công nghiệp và bãi tập kết bỏ hoang. Chính quyền và người dân cùng tham gia thiết kế trả lại trạng thái tự nhiên ban đầu của khu vực, bao gồm hệ thống nước mặt, mạch nước ngầm và không gian xanh. Các hội thảo đã được tổ chức để thu hút sự tham gia của người dân, các doanh nghiệp địa phương và chủ sở hữu.

Dự án chuyển đổi khu đất hoang thành công viên công cộng ở TP Portland – Mỹ)

Jardins partagés (Khu vườn cộng đồng ở Paris – Pháp) là hình thức chia sẻ không gian xanh. Jardins partagés được cư dân tự phát triển khai trên những mảnh đất trống, xen kẹt hoặc xuống cấp, hoặc tạm thời bị bỏ trống trong khoảng thời gian chờ đợi kế hoạch khai thác sử dụng của TP. Các mảnh đất của Jardins partagés có thể là riêng lẻ (vườn của hộ gia đình tham gia vào mạng lưới), tập thể hoặc chính quyền, nơi mọi người đều có thể tiếp cận. “Hiệp ước Bàn tay Xanh” (Green Hand Pact), được ký kết bởi các cộng đồng tạo ra các “Jardins partagés”, đưa ra các kế hoạch: Tổ chức sự kiện công cộng, quản lý và truyền thông…

Ngoài việc cung cấp không gian xanh dễ tiếp cận ở các khu vực trong TP và cải thiện chất lượng môi trường, Jardins partagés còn cung cấp các không gian văn hóa sáng tạo, tích hợp các chương trình hòa nhập xã hội, hướng nghiệp và cung cấp việc làm… cho dân cư lân cận. Jardins partagés có khả năng kết nối với đông đảo các cá nhân khác nhau, các thế hệ khác nhau, nền tảng xã hội khác nhau, nền văn hóa và nguồn gốc khác nhau. Năm 2020 đã có hơn 70 Jardins partagés đã được tạo ra trong vòng 10 năm, đóng góp cho mô hình “TP 15 phút” ở Paris (Pháp).

Dự án thiết lập mạng lưới Jardins partagés ở Paris – Pháp

Tái sử dụng công trình công cộng (TP Los Angeles, bang California – Mỹ). Năm 2020 tại Los Angeles, một dự án tái sử dụng trung tâm mua sắm Westside Pavilion trước đây thành không gian kinh tế sáng tạo đã được thực hiện. Nơi đây đã cung cấp không gian công cộng, thương mại dịch vụ, giao lưu văn hóa và tạo nguồn công việc thu nhập cho dân cư địa phương.

Dự án tái sử dụng trung tâm mua sắm cũ thành không gian kinh tế sáng tạo ở TP LosAngeles – Mỹ

Không gian công cộng – sáng tạo ở Việt Nam

Trước đại dịch Covid-19, đã có rất nhiều nỗ lực từ phía Chính phủ và các nhóm hoạt động xã hội trong việc đi tìm và khai thác các không gian công cộng cho các TP lớn. Không gian văn hóa sáng tạo (KGVHST) là một trong những mô hình đó. Hiện nay, ở Việt Nam có hơn 200 KGVHST khắp cả nước, tập trung phần lớn là ở Hà Nội và TP HCM. Giữa năm 2020, Cuộc thi thiết kế không gian sáng tạo Hà Nội lấy cảm hứng từ việc chuyển đổi các khu đất của nhà máy – cơ sở sản xuất cũ thành không gian sáng tạo Hà Nội, do TP Hà Nội, Hội KTS Việt Nam bảo trợ, Sở Văn hóa Thể thao Hà Nội phối hợp với Tạp chí Kiến trúc – Hội KTS Việt Nam và các đơn vị đồng hành UNESCO: UBND quận Hoàn Kiếm, Mạng lưới Vì Một Hà Nội Đáng sống tổ chức, đã thu hút được đông đảo người tham gia và đã đạt được nhiều kết quả khả quan.

Trên thực tế, Hà Nội đã hình thành một vài không gian sáng tạo từ trước như: Ơ Kìa Hà Nội (trong khuôn viên trường ĐH Mỹ thuật Công Nghiệp 360 Đê La Thành), Complex-01 (tại Nhà máy In Công đoàn, phố Tây Sơn, Đống Đa), 60S (Thổ Quan, Đống Đa), 282 Design (Bồ Đề, Long Biên),… hay là sân chơi dành cho trẻ em (Nhóm ThinkPlayGround-TPG), Sân chơi công cộng Phúc Tân (Mạng lưới “Vì một Hà Nội đáng sống”),…

Cuộc thi thiết kế không gian sáng tạo Hà Nội

Không gian văn hóa sáng tạo Ơ Kìa Hà Nội (360 Đê La Thành, Đống Đa, Hà Nội), chuyển đổi từ một bãi tập kết rác trong khuôn viên trường ĐH Mỹ thuật Công nghiệp khai thác kết hợp với tính chất mỹ thuật ứng dụng của nhà trường và phong trào sinh viên cùng giảng viên tạo nên không gian công cộng với đa dạng hoạt động văn hóa nghệ thuật phong phú, thu hút được đông đảo người dân khắp TP.

Ơ Kìa Hà Nội – Không gian sáng tạo trong khuôn viên của trường Đại học Mỹ thuật Công Nghiệp

282 Design (156 Phú Viên,Bồ Đề, Long Biên, Hà Nội), được hình thành trên mảnh đất của nhà máy mũ cối đã được di dời, để hoang từ nhiều năm trước. Một nhóm KTS đã thuê với thời hạn 20 năm để biến nơi đây thành trung tâm sáng tạo cho những người yêu các sản phẩm làm từ gỗ, và những không gian để hoạt động nghệ thuật mang tính gần gũi. Tất cả vật liệu được sử dụng tại 282 Design đều được tận dụng từ những công trình cũ.

282 Workshop được hình thành trên mảnh đất của nhà máy cũ đã được di dời

Không gian công cộng Phúc Tân và Public Art Phúc Tân (phường Phúc Tân, Hoàn Kiếm, Hà Nội), được biến đổi thành khu vui chơi từ khu vực vốn là bãi rác và bờ vở lấn chiếm. Từ một nơi không ai muốn đến và không thể nghĩ sẽ thành nơi gặp gỡ nhau vì ô nhiễm và không an toàn, thì giờ đây những người dân tổ 16 phường Phúc Tân còn chung tay làm thêm hàng rào an toàn và đẹp cho sân chơi, làm thêm cổng chào và biến khu này thành một không gian sống an toàn, với kết nối mở cho tất cả mọi người. Khu Public Art Phúc Tân lại là một dạng thức phối hợp khác khi chính quyền mời nghệ sĩ sáng tác và đặt tác phẩm tại khu vực bức tường rào. Dự án nghệ thuật này có dư âm tốt, một số tác phẩm có tính ứng dụng cao như tranh tường cũng tạo ra sinh khí cho khu dân cư.

Dự án chuyển đổi bãi rác thành sân chơi công cộng ở bãi Phúc Tân và Public Art Phúc Tân – Hà Nội

Sân chơi dành cho trẻ em – Thinkplay-Ground (TPG), xuất hiện khắp nơi trên địa bàn Hà Nội. Ở đâu có khoảng trống, xen kẹt, ở đó có sân chơi trẻ em, được thiết kế từ việc sử dụng những vật liệu tái chế và thân thiện môi trường. Cách thức thực hiện luôn là kết hợp chặt chẽ với chính quyền, lắng nghe cộng đồng và cùng thực hiện với cộng đồng.

Sân chơi dành cho trẻ em của nhóm TPG

Tiềm năng từ những “tài sản bị mắc kẹt”

Từ kinh nghiệm trên thế giới và trong nước, chúng ta có thể nhận thấy sự mềm dẻo, linh hoạt trong việc khai thác và sử dụng các nhà máy cũ, các khu đất trống, các công trình công cộng kém hiệu quả, thậm chí là các dự án bị bỏ hoang, có thể đem đến nguồn lợi lớn thế nào cho cư dân, cộng đồng, chính quyền. Nhìn lại Việt Nam, chúng ta rất dễ nhận thấy, chúng ta có nhiều – nếu không muốn nói là rất nhiều các ví dụ tương đồng. Đó chính là những “Tài sản bị mắc kẹt” của các đô thị ở Việt Nam.

Có thể nói đại dịch Covid-19 là cơ hội để chúng ta nhìn nhận lại tiềm năng của những “tài sản mắc kẹt” này. Cần có những sáng kiến, chính sách, cơ chế hợp tác, cho phép khai thác sử dụng, tránh lãng phí quỹ đất, tăng cường hiệu quả kinh tế cho địa phương và chủ sở hữu, phục vụ các nhu cầu thiết yếu và cung cấp công ăn việc làm cho dân cư khu vực lân cận.
Thủ đô Hà Nội là một trong những “đại công trường” lớn nhất cả nước. Song song với sự phát triển mạnh mẽ về quy hoạch xây dựng là sự xuất hiện của những “Tài sản bị mắc kẹt”. Đặc biệt là Quận Thanh Xuân, nơi tập trung nhiều dự án đang triển khai, nơi đã từng là khu công nghiệp tập trung lớn nhất của Thủ Đô Hà Nội. Có thể tạm phân loại những “Tài sản bị mắc kẹt” đó theo yếu tố sở hữu, thành các nhóm chính như sau:

  • Nhóm 1: Các khu đất trống, xen kẹt, mặt nước bị bỏ hoang…hoặc đã bị lấn chiếm: hầu hết đang là nơi vứt rác thải, tập kết vật liệu xây dựng bừa bãi… hoặc bãi đỗ xe, kho hàng hóa tạm thời.
  • Nhóm 2: Các khu đất công trình công cộng kém hiệu quả: Trụ sở cơ quan, Trạm y tế; Chợ… nhiều công trình trong số đó đang cho thuê làm nơi gửi xe ô tô, kho hàng hóa, quán trà đá giải khát. Mặc dù đã có đầy đủ hạ tầng cơ sở, nhưng sử dụng kém hiệu quả, chức năng sử dụng cứng nhắc, thiếu linh hoạt, không theo kịp sự phát triển của xã hội, không đáp ứng được nhu cầu của người dân lân cận, lãng phí quỹ đất công.
  • Nhóm 3: Khu đất trống chưa sử dụng của các trường đại học cao đẳng: Một số đang để hoang, trở thành nơi vứt rác, cho thuê kho bãi… một số đã cho thuê làm quán cà phê, ăn uống, giải khát.
  • Nhóm 4: Các khu đất của nhà máy – cơ sở sản xuất cũ: Một số đang cho thuê nhà xưởng, kho hàng, bãi đậu xe, sân tennis… một số đã được chuyển đổi thành không gian văn hóa sáng tạo, quán cà phê, quán giải khát…
  • Nhóm 5: Các khu đất dự án đang nằm chờ triển khai: Tính đến giữa năm 2021, trên địa bàn TP Hà Nội có đến 287 dự án đã được giao đất nhưng chậm triển khai, vi phạm Luật Đất đai. Trong đó có tình trạng chủ đầu tư cố ý sử dụng đất sai mục đích hoặc cố tình chây ỳ triển khai dự án… Hàng loạt khu đất “vàng” bỏ hoang phế ngay giữa các khu dân cư. Có dự án trở thành nơi chăn thả trâu, bò, có dự án được tận dụng làm nơi trồng rau, nuôi vịt…
  • Nhóm 6: Các khu đất không gian chung dưới đất, không gian mái của các khu tập thể cũ: Vỉa hè, sân chung, nơi để xe tạm, quán trà đá, bãi phế thải… phần lớn đang bị lấn chiếm, sử dụng sai mục đích.
Sơ đồ vị trí những “Tài sản bị mắc kẹt” trên địa bàn quận Thanh Xuân

“Chìa khóa” mở các “tài sản bị mắc kẹt”

Nhóm nghiên cứu đã thực hiện một cuộc khảo sát nhỏ, phỏng vấn và thu thập các nhu cầu thiết yếu của dân cư tại các địa điểm khác nhau trên địa bàn quận Thanh Xuân. Từ đó đề xuất sơ đồ vị trí, phân loại các nhóm “tài sản bị mắc kẹt”.

Đề xuất các chức năng không gian công cộng cụ thể tùy theo từng địa điểm, theo nhu cầu thiết yếu của từng nhóm dân cư. Dựa trên nguyên tắc “Tất cả phải đều đúng, đều đủ!”

  • Nhóm các công trình công cộng hiệu suất thấp: phù hợp để bổ sung với không gian thương mại dịch vụ, văn hóa, giáo dục đa chức năng đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của người dân;
  • Nhóm đất trống bỏ hoang: Phù hợp khai thác mạng lưới không gian xanh kết hợp nông nghiệp tại gia, tạo không gian thư giãn, cải thiện môi trường và tăng cường nhu cầu thực phẩm tươi sạch cho người dân;
  • Nhóm đất chưa sử dụng của các trường đại học, cao đẳng: Phù hợp khai thác các không gian văn hóa sáng tạo, kinh tế sáng tạo;
  • Nhóm đất của nhà máy – cơ sở sản xuất cũ: Rất nhiều tiềm năng, thế mạnh, khai thác các không gian đa chức năng;
  • Nhóm đất dự án chờ triển khai: Phù hợp các không gian công cộng đa chức năng ngắn hạn từ 3-5 năm;
  • Nhóm không gian chung và mái của khu tập thể: phù hợp không gian xanh, nông nghiệp trên mái, sân chơi vườn hoa và các dịch vụ cơ bản nhỏ gọn (cắt tóc, đồ ăn nhanh, đồ ăn sáng …) của người dân.

Một số công việc cơ bản cần triển khai:

1. Truyền thông và tăng cường vai trò cộng đồng: Tổ chức các diễn đàn, hội thảo nhằm phổ biến rộng rãi chiến lược khai thác tiềm năng của các “Tài sản bị mắc kẹt”, kích thích sự tham gia của cộng đồng. Quan điểm đặt lợi ích của người dân lên hàng đầu.

2. Thành lập kho dữ liệu điện tử: Xây dựng bộ câu hỏi ngắn gọn, súc tích, để khảo sát ý kiến của chính quyền địa phương, chủ sở hữu và cộng đồng dân cư từng khu vực. Cần thiết phải thành lập kho dữ liệu điện tử, mọi người dân đều có quyền truy cập, cung cấp và cập nhật thông tin:

  • Số lượng của các “tài sản bị mắc kẹt”?
  • Vị trí của các “tài sản bị mắc kẹt”?
  • Tình hình sử dụng của các “tài sản bị mắc kẹt”?
  • Thuộc chủ sở hữu nào?
  • Mong muốn của chủ sở hữu?
  • Mong muốn của người dân trong từng địa bàn cụ thể?…

3. Tăng cường khả năng tiếp cận tốt: Nhiều công trình công cộng bị “ngắt” kết nối với các khu vực lân cận, bởi tường rào nhà dân, tường rào khu chung cư và ngõ cụt. Cần có chính sách, biện pháp đền bù bằng lợi ích để mở thông, kết nối, kích thích nhu cầu đi bộ và đi xe đạp. Cần phải đảm bảo rằng mọi người đều có thể tiếp cận các không gian này thông qua 5 phút đi bộ và đi xe đạp (hay 400-500m) – (Tham khảo bài “Thanh Xuân 5 phút” – gợi ý về mô hình đô thị hậu Covid-19 / đăng trên Nhân Dân đặc biệt)

4. Kích thích phát triển nền kinh tế sáng tạo: Khuyến khích chính quyền, chủ sở hữu tái sử dụng lại các tòa nhà bỏ trống thành tài sản kinh tế hiệu quả có lợi cho cộng đồng. Xây dựng kế hoạch tái sử dụng một cách thích hợp, tạo ra các không gian có lợi ích về môi trường, xã hội và kinh tế, hình thành các cộng đồng sử dụng hỗn hợp tránh lãng phí. Chính quyền, chủ sở hữu và cộng đồng làm việc cùng nhau để lên kịch bản phát triển các ý tưởng sử dụng lại những tài sản mắc kẹt này.

Đây chỉ là một cuộc khảo sát nhỏ, nhưng xuất phát từ việc học hỏi kinh nghiệm các quốc gia trên thế giới và các dự án chuyển đổi tái thiết đã thành công tại Việt Nam. Cần thiết phải có những kế hoạch nhỏ để chính quyền và cộng đồng có thể tiếp cận và công nhận, tạo ra sự lan tỏa và nhân rộng trên toàn quốc. Từ đó củng cố sức mạnh nội tại cho các đô thị từng bước tiến tới phát triển bền vững và sẵn sàng ứng phó trước đại dịch lâu dài như COVID-19.

ThS.KTS Nghiêm Quốc Cường
Giảng viên khoa Quy hoạch Đô thị và Nông thôn Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 11-2021)


Tài liệu tham khảo
Tạp chí chuyên ngành QHXD; 15Minutecity.com; c40 cities climate leadership group,inc; greater.sydney.com; Popupcity.net; Ủban land institure (uli); voiscooters.com

The post Tài sản bị “mắc kẹt” – Tiềm năng của các khu đất trống và dự án bị bỏ hoang appeared first on Tạp chí Kiến trúc - Hội Kiến trúc sư Việt Nam.



from Tạp chí Kiến trúc – Hội Kiến trúc sư Việt Nam https://ift.tt/3zqoJUz
Blog phát triển bởi https://tuvankientrucnha.blogspot.com/
Tìm kiếm đơn vị chuyên xây dựng công trình nhà ở Hà Nội https://thoxay.vn//

Tuần lễ Khơi nguồn sáng tạo 2021: Kết nối các nguồn lực văn hóa sáng tạo Hà Nội

Tuần lễ Khơi nguồn sáng tạo diễn ra từ ngày 24 – 31/12/2021 tại Di sản Văn hoá Kiến trúc 22 Hàng Buồm – Hoàn Kiếm – Hà Nội, hứa hẹn sẽ tạo nên một cuộc đối thoại đa chiều hấp dẫn giữa các ngành nghệ thuật sáng tạo với một nơi chốn, một không gian thấm đẫm tính giao thoa văn hoá và nghệ thuật…

Với mong muốn tôn vinh kết quả Cuộc thi Thiết kế Không gian sáng tạo Hà Nội, đồng thời, tạo nên sự kiện văn hoá nghệ thuật khơi nguồn, thúc đẩy, tạo cầu nối gắn kết các hoạt động sáng tạo cộng đồng trong Thành phố, dưới sự chỉ đạo của Uỷ ban Nhân dân Thành phố Hà Nội và Hội Kiến trúc sư Việt Nam, Sở Văn hoá và Thể thao Hà Nội phối hợp cùng Tạp chí Kiến trúc và UNESCO, Uỷ ban nhân dân Quận Hoàn Kiếm tổ chức Tuần lễ Khơi nguồn Sáng tạo, hướng tới trở thành sự kiện được tổ chức thường niên.

Trong khuôn khổ hoạt động của tuần lễ sẽ có hơn 20 sự kiện, không gian triển lãm và trình diễn, từ thiết kế thời trang, nghệ thuật thư pháp, kí hoạ, âm nhạc thử nghiệm, sắp đặt, trình diễn video art, trình diễn nghệ thuật sân khấu truyền thống thử nghiệm… tới điểm nhấn là triển lãm các tác phẩm đoạt giải Cuộc thi “Hà Nội là…” của giới trẻ Hà Nội, các giải pháp ý tưởng kiến trúc đoạt giải tại Cuộc thi Thiết kế Không gian sáng tạo Hà Nội.

Bên cạnh đó, chương trình còn là dịp chia sẻ, thảo luận của các nghệ sỹ, các KTS, các chuyên gia về các chủ đề liên quan đến sáng tạo, lấy cảm hứng từ các giá trị di sản truyền thống và văn hóa bản địa trong đời sống đương đại và sự tham gia của công nghệ… Đặc biệt, toạ đàm “Khơi nguồn Sáng tạo – Hà Nội 2021” là cuộc trao đổi cởi mở của các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách và nhà đầu tư nhằm đánh giá một cách khách quan các tiềm năng, lợi thế, các cơ hội, thách thức; thúc đẩy việc hình thành các cộng đồng sáng tạo, tìm kiếm các ý tưởng thiết kế và khai thác các không gian sáng tạo của Thủ đô Hà Nội; hướng tới việc nâng cao vị thế cạnh tranh của Hà Nội với các đô thị trong vùng và trong khu vực.

Tuần lễ Khơi nguồn Sáng tạo 2021 sẽ là tiền đề cho chuỗi sự kiện thường niên mang tên Tuần lễ Khơi nguồn Sáng tạo nhằm mục đích tạo ra một nền tảng kết nối các nguồn lực và tài năng trong lĩnh vực văn hoá sáng tạo của Hà Nội, phát huy tinh hoa từ di sản văn hoá để Hà Nội xứng đáng với danh hiệu thành phố sáng tạo trong lĩnh vực Thiết kế thuộc Mạng lưới Thành phố Sáng tạo của UNESCO.

Sau ngày 31/ 12/ 2021, không gian trưng bày, triển lãm nghệ thuật đương đại đa phương tiện thuộc Tuần lễ sẽ kéo dài đến qua Tết Âm lịch, để công chúng tiếp tục có cơ hội thưởng thức trong năm mới.
Một số hoạt động nổi bật diễn ra tại Tuần lễ

Hoạt động nổi bật

  1. Lễ Khai mạc Tuần lễ Khơi nguồn sáng tạo và Lễ trao giải Cuộc thi Thiết kế Không gian sáng tạo Hà Nội
  2. Trình diễn thời trang “Nhị Hà Flow”
    Với Nhị Hà Flow (Nhị Hà là một tên khác của Sông Hồng), những hoạ tiết bắt mắt ghép vải, in khắc gỗ và thêu thùa cầu kỳ (của thương hiệu CHULA); những chất liệu độc đáo với các kỹ nghệ tạo tác thủ công đa dạng, đến từ nhiều vùng miền khác nhau (của thương hiệu KILOMET109) như nhuộm tự nhiên, vẽ sáp ong, dệt ikat…sẽ mang tới một luồng gió mới cho phong cách thời trang, khắc hoạ một bối cảnh về thời trang của thủ đô. Sự tương phản giữa phong cách sôi nổi của Nhà thiết kế Tây Ban Nha – Diego Cortizas và phong cách thanh lịch Á Đông của Nhà thiết kế Việt Nam- Vũ Thảo lần nữa khẳng định Hà Thành luôn là mảnh đất của những ý tưởng sáng tạo dồi dào, bất tận.
  3. Trình diễn Thư pháp “Rồng rắn lên mây”
    Được thể hiện trên tấm lụa trắng, dài khoảng 50m, viết bằng Bút lông chổi to và mực chắt lọc thủ công từ đất, câu đồng dao: Rồng rắn lên mây, kết hợp những câu thơ Nôm, mang thuần chất của văn hóa người Việt. Nghệ thuật thư pháp được thể hiện mới hoàn toàn và đầy tính sáng tạo, mang bản sắc văn hóa Việt Nam, không lẫn với các quốc gia khác. Trình diễn cũng gắn với triển lãm và sắp đặt Thư pháp của Nghệ sĩ Thiền Phong – Phạm Văn Tuấn và Nghệ sĩ Ân Xuyên – Nguyễn Quang Thắng trong không gian 22 Hàng Buồm.
  4. Hòa nhạc Đàn đó
    Nội dung xuyên suốt của chương trình là các tác phẩm âm nhạc được lấy cảm hứng từ tên gọi của từng nhạc cụ trong bộ nhạc cụ Đàn Đó. Cùng với những âm thanh mộc mạc, tinh tế của Đàn Đó là sự kết hợp của nhiều ngôn ngữ âm nhạc khác nhau, tạo nên sự đa dạng, hoà trộn bất ngờ cho buổi trình diễn. Trong chuỗi các tác phẩm, màu sắc nhạc Jazz qua tiếng kèn saxophone và nhạc điện tử (loop station) là hai yếu tố đương đại được hoà trộn với âm chất của Đàn Đó, tạo nên một không gian trải nghiệm âm nhạc thú vị, mới mẻ đầy tính kết nối đương đại.
  5. Tuồng đương đại “Cõi thinh không”
    Phần trình diễn âm nhạc của “Cõi Thinh Không” được lấy cảm hứng từ các yếu tố âm nhạc khác nhau, từ truyền thống tới hiện đại. Thông qua Cõi Thinh Không, khán giả có dịp hiểu thêm về con người Việt Nam và hệ giá trị truyền thống tốt đẹp được gìn giữ từ đời này qua đời khác.
  6. Hòa nhạc video art “Đại tượng”

Lấy cảm hứng từ khái niệm “tượng” là những khung định nghĩa dùng để trừu tượng hoá những điều cụ thể, tác phẩm muốn truy vấn những ý niệm phổ quát về tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam trong dòng chảy của ý thức hệ phong kiến. Màn trình diễn ngẫu hứng của các nghệ sỹ chơi đàn phương Tây trong cuộc đối thoại trực tiếp với video mở ra cuộc đối thoại phỏng hiện giữa Đông và Tây, truyền thống và hiện đại.

Ảnh không gian 22 Hàng Buồm

Tọa đàm nổi bật:

  1. Tọa đàm “Khơi nguồn sáng tạo – Hà Nội 2021”;
  2. Tọa đàm “Di sản đô thị – Duy trì và phát triển tiếp nối”;
  3. Toạ đàm “Đầu tư vào không gian sáng tạo: Bay bổng hay thực tế?” – Trò chuyện với nhóm đoạt giải Cuộc thi Thiết kế Không gian sáng tạo Hà Nội;
  4. Tọa đàm “Những nhà sáng tạo trẻ – Văn hoá kiến tạo tương lai”;
  5. Toạ đàm và workshop: “Sức sống mới cho không gian xưa cũ” – Giao lưu với các nhóm SV đạt giải cuộc thi Thiết kế không gian sáng tạo Hà Nội;
  6. Toạ đàm “Đa dạng văn hoá – Nền tảng cho sáng tạo nghệ thuật” – Giới thiệu sách “Mỹ thuật Việt: Soi từ phía khác” của Họa sĩ Trần Hậu Yên Thế;
  7. Tọa đàm “Nghệ thuật Thư pháp trong cuộc sống đương đại”;

Không gian trưng bày:

  1. Tác phẩm sắp đặt ngoài trời “Phố Hàng Buồm” của Họa sĩ Trần Hậu Yên Thế;
  2. Không gian trải nghiệm công nghệ thực tế ảo bằng Công nghệ Holomia;
    Tại không gian trải nghiệm này, khách tham quan sẽ được kết nối vào một không gian giả lập thực tế với các không gian trưng bày triển lãm của Tuần lễ Khơi nguồn Sáng tạo và các phương án đạt giải cuộc thi;
  3. Không gian sắp đặt ánh sáng “Dãi thẻ” trong triển lãm Xem Đêm của KTS Nguyễn Hà và Nghệ sỹ Nguyễn Đức Phương;
  4. Không gian trưng bày 16 phương án đạt giải cuộc thi “Thiết kế không gian sáng tạo Hà Nội”;
  5. Triển lãm “Ký họa Phố cổ Hà Nội 2021” của Nhóm Urban Sketchers Hanoi;
  6. Triển lãm “Hà Nội là…” của UNESCO và UN-Habitat
  7. Không gian triển lãm thư pháp “Phiêu Diêu” của Nghệ sĩ Thiền Phong – Phạm Văn Tuấn và Nghệ sĩ Ân Xuyên – Nguyễn Quang;
  8. Không gian triển lãm hiện vật “Ký ức 22 Hàng Buồm” của nhóm Nghệ sỹ Trần Hậu Yên Thế, Nghệ sỹ Nguyễn Thế Sơn, Nghệ sỹ Vũ Xuân Đông, KTS Hoàng Phương.
  9. Không gian triển lãm sắp đặt Video art “Đại tượng” của Nhóm nghệ sỹ thị giác Triệu Minh Hải và Ngô Thu Hương, Nghệ sỹ violin Nguyễn Ngọc Đức, Nghệ sỹ piano Trần Thu Thảo và Nghệ sỹ violin Trịnh Quang Thành.
  10. Không gian Trà Việt “Mạn hảo Shancha”

Lịch trình diễn ra sự kiện

Thông tin về từng sự kiện cũng như cách thức tham gia sự kiện dành cho công chúng sẽ được cập nhật trên kênh truyền thông chính thức của Tuần lễ tại địa chỉ fanpage https://ift.tt/3eRe2ky

Cuộc thi thiết kế Không gian sáng tạo Hà Nội do UBND TP Hà Nội và Hội KTS Việt Nam chỉ đạo, Sở Văn hoá và Thể thao Hà Nội phối hợp Tạp chí Kiến trúc, đồng hành với UNESCO, Mạng lưới Vì một Hà Nội đáng sống (Đại diện bởi ECUE), UBND Quận Hoàn Kiếm đồng tổ chức, nằm trong chuỗi các hoạt động mà Hà Nội phát động với sự phối hợp của nhiều lĩnh vực nghệ thuật, nhằm nâng cao nhận thức, gắn kết cộng đồng trong nhịp đập văn hoá và sáng tạo của thành phố, từng bước hiện thực hoá xây dựng các không gian sáng tạo, cộng đồng sáng tạo. Được phát động từ tháng 10/2020, Cuộc thi đã nhận được sự tham gia của đông đảo các chuyên gia, những người quan tâm và hoạt động trong lĩnh vực sáng tạo trên cả nước với 93 phương án của 3 hạng mục dự thi. Hội đồng đã chọn được 18 giải (16 phương án) dành cho các phương án dự thi xuất sắc nhất.

An An
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 11-2021)

The post Tuần lễ Khơi nguồn sáng tạo 2021: Kết nối các nguồn lực văn hóa sáng tạo Hà Nội appeared first on Tạp chí Kiến trúc - Hội Kiến trúc sư Việt Nam.



from Tạp chí Kiến trúc – Hội Kiến trúc sư Việt Nam https://ift.tt/3ESkxOC
Blog phát triển bởi https://tuvankientrucnha.blogspot.com/
Tìm kiếm đơn vị chuyên xây dựng công trình nhà ở Hà Nội https://thoxay.vn//

Kiến trúc Gothic của nhà thờ chánh tòa Narbonne

Có lẽ hơn 80% khách du lịch đến Narbonne là khách nội địa, người Pháp. Những du khách ngoại quốc có mặt ở đây phần lớn vì tình cờ dừng chân trên chặng đường khám phá kênh đào Canal du Midi. Là một thị trấn giàu lịch sử ở miền Nam gần biên giới Pháp-Tây Ban Nha và nằm trên trục giao thông quan trọng, Narbonne dường như vẫn ẩn mình khỏi làn sóng du lịch khuynh đảo Âu châu để giữ lấy một không khí địa phương vô cùng yên ả. Những con đường lát đá hẹp vắng lặng của Narbonne dẫn về trung tâm thành phố, nơi tọa lạc một nhà thờ Công giáo có phong cách Gothic xây từ cuối thế kỉ 12. Thị trấn miền biên ải này bao quanh bởi dòng kênh và những cánh đồng trống trải, bởi vậy nhà thờ nổi bật giữa khung cảnh thanh bình bởi chiều cao và sự đồ sộ của nó. Có thể mường tượng vào thời trung cổ, tháp nhà thờ có thể được nhìn thấy từ rất xa, từ trên yên ngựa dặm trường và từ những chiếc thuyền neo đậu bên sông Aude.

Kênh đào Canal du Midi

Từ khi ra đời, kiến trúc Gothic đã lan tỏa khắp châu Âu và tiếng chuông Thánh lễ Ki-tô giáo không ngừng ngân vang qua nhiều thế kỉ lịch sử phát triển của lục địa già. Phát triển từ trong lòng Do Thái giáo, từ những cội nguồn mong manh bên trong một xứ sở nhỏ bé nằm dưới sự chiếm đóng của đế quốc La Mã, Ki-tô giáo, đến thế kỉ 19 đã tăng trưởng để trở thành tông giáo đông đảo tín đồ nhất thế giới. Từ thế kỉ thứ 2 sau Công nguyên, các tuyến phát triển tự phát của Ki-tô giáo sơ kì đã tụ lại với nhau tạo ra nền tảng của “Ki-tô Giáo hội”, thường được gọi là Công giáo với ý nghĩa tông giáo phổ quát cho mọi người hoặc chính thống giáo với ý nghĩa sự tin tưởng chính đáng. Ki-tô Giáo hội ngày càng được củng cố về mặt thiết chế, gia tăng tính thống nhất của các thực hành nghi thức, các bộ quy điển về kinh văn và tín điều. Một xã hội Ki-tô giáo thống nhất dưới sự kiểm soát tối hậu của Giáo hoàng và Giáo hội, được che chở bởi những nhà lãnh đạo tôn trọng uy quyền của Roma. Dần dần thế giới quan Ki-tô giáo và các thiết chế của nó tự thiết lập như là chân lý mà người dân châu Âu được sinh ra và rửa tội trong đó. Đến cuối thời trung cổ, gần như mọi “linh hồn” đều đã được định vị bên trong giáo xứ của một nhà thờ địa phương và giáo khu của một đại giáo đường cùng với giám mục của nó. Mặc dù kiến trúc nhà thờ không phải chỉ dành riêng cho Ki-tô giáo nhưng nó phát triển đầu tiên với Ki-tô giáo và có tầm quan trọng đặc biệt trong đời sống xã hội của các Ki-tô hữu. Từ hình thức kiến trúc La Mã phổ thông, các nhà thờ Ki-tô dần phát triển với các cấu trúc và kĩ thuật phức tạp hơn. Kiến trúc Gothic gắn liền với sự ra đời và phát triển của Ki-tô giáo hội, mang thông điệp hướng đến một cõi cao hơn trần gian, đòi hỏi sự thờ phụng, tán tụng, sám hối và phục vụ. Nhà thờ Chánh tòa Narbonne (Tiếng Pháp Cathédrale Saint-Just-et-Saint-Pasteur de Narbonne) là hình mẫu tiêu biểu cho kiến trúc nhà thờ Gothic với tất cả các đặc trưng của nó, đồng thời cũng là một tác phẩm độc đáo bởi cấu trúc dang dở chưa hoàn thiện của mình. Sự dang dở này có thể được nhận biết qua quy mô và tỉ lệ bất thường của nó.

Thánh đường được lên kế hoạch xây dựng từ năm 1272 nhưng chỉ bắt đầu khởi công 12 năm sau đó và trên thực tế, công trình này chưa bao giờ hoàn thành bởi nhiều lý do, trong đó có tình hình tài chính của Narbonne qua các biến động chính trị. Nhà thờ hiện tại bao gồm một cung thánh, hai tháp vuông, được xây theo phong cách của các nhà thờ miền Bắc Pháp và là ví dụ tiêu biểu cho thời kì đầu của kiến trúc Gothic ở miền Nam. Mặc dù nhà thờ ngày nay là điểm nhấn kiến trúc quan trọng nhất ở trung tâm thành phố, vào thời điểm được xây dựng, nó nằm cạnh bức tường thành. Sau khi phần cung thánh và hai tháp canh được hoàn thành, phần còn lại của nhà thờ chỉ có thể hoàn thiện nếu bức tường thành bị đập bỏ, đòi hỏi này gây nhiều tranh cãi và cuối cùng không được hội đồng thành phố chấp thuận. Do đó, thánh đường Narbonne tồn tại đến ngày nay cùng với sự dang dở của mình.

Nhà thờ nhìn chung là một kiến trúc bằng đá đồ sộ tạo thành từ các bức tường dày hai lớp và các thước cột rất lớn. Mặc dù các vòm cung đá ở ngoại thất và cung nhọn của hình thức trần trong nội thất cùng với các cửa sổ lớn mang đến ánh sáng và sự thanh thoát nhất định, Nhà thờ Narbonne, như những công trình kiến trúc Gothic tiêu biểu khác, đem đến ấn tượng về một tỉ xích choáng ngợp áp đảo kích thước con người. Tính về chiều cao, đây là nhà thờ có chiều cao lớn thứ 4 ở Pháp, khoảng 40,6m từ sàn đến đỉnh chóp của trần nội thất. Thông thường, trong các nhà thờ Gothic, sự tương ứng tỉ lệ giữa chiều cao, chiều rộng chính đường và chiều dài hành lang làm giảm sự áp đảo của chiều cao choáng ngợp. Nhưng trong trường hợp này, thánh đường Narbonne vì chưa hoàn thành nên sự tương xứng phần nào mất đi, ấn tượng về chiều cao tăng lên. Sức gió thổi tới từ bờ biển Địa Trung Hải chỉ cách vị trí nhà thờ 13km là một thách thức cho các KTS Trung Cổ khi xét đến chiều cao vượt trội của công trình. Các kĩ sư thời kì này cũng cho thấy kĩ thuật đáng thán phục khi để lại các phiến đá nối với nhau ở những giao điểm phức tạp mà không có khe hở hay khớp nối để ngăn nước xâm nhập. Tiếc rằng chúng ta có quá ít thông tin về các KTS Gothic vì họ đã sống và cống hiến trong thời đại mà tên tuổi và vai trò của sáng tạo cá nhân hoàn tòan không được ghi nhận hay lưu truyền cho hậu thế.

Nhà thờ chánh tòa Narbonne, một công trình kiến trúc dang dở

Tòan bộ kiến trúc bằng đá này có thể trông nặng nề cằn cỗi trong điều kiện thời tiết u ám hay giữa bối cảnh thiên nhiên ảm đạm nhưng dưới bầu trời xanh trong và ánh nắng rực rỡ của miền nam nước Pháp, nhà thờ gây ấn tượng bởi cấu trúc hình học của các mặt tường đá phản chiếu ánh nắng mặt trời tạo thành những vùng bóng đổ sáng tối thật đẹp. Công trình cũng có hình thức hài hòa khi đứng cạnh các kiến trúc phụ cận trong một khu vực dân cư đẹp cổ kính với tổng thể lịch sử cố kết.

Bên cạnh nhà thờ, tu viện thế kỉ 14 giờ đây là một công viên nhỏ mở cửa miễn phí cho tất cả mọi người. Cũng bên cạnh nhà thờ và ở ngay trung tâm thị trấn Narbonne là một di tích lịch sử rất quan trọng, phần còn lại của con đường Domitia có từ thời La Mã cổ đại được bảo tòan bên dưới thành phố hiện đại ngày nay. Narbonne là một trong các thị trấn châu Âu mà chứng tích quá khứ vẫn còn hiện diện trên mọi góc đường, một điểm đến yên bình và cổ kính vẫn giữ được không khí của riêng nó khi chưa bị khuynh loát bởi các làn sóng khách du lịch thập phương.

Đinh Thị Ngọc Tâm
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 10-2021)


Tài liệu tham khảo:
1. Dẫn luận về Kitô giáo, tác giả Linda Woodhead, dịch giả Nguyễn Tiến Văn;
2. A History of interior design, tác giả John Pile & Judith Gura;
3. Các trang web www.academia.com và www.britannica.com;

The post Kiến trúc Gothic của nhà thờ chánh tòa Narbonne appeared first on Tạp chí Kiến trúc - Hội Kiến trúc sư Việt Nam.



from Tạp chí Kiến trúc – Hội Kiến trúc sư Việt Nam https://ift.tt/3JCTx9b
Blog phát triển bởi https://tuvankientrucnha.blogspot.com/
Tìm kiếm đơn vị chuyên xây dựng công trình nhà ở Hà Nội https://thoxay.vn//

Chiếu sáng đô thị một phần của thiết kế ngoại thất – cảnh quan

Với cuộc sống sôi động của đô thị về đêm, vấn đề chiếu sáng là một phần trong thiết kế Ngoại thất – Cảnh quan và ngày càng được quan tâm nhiều hơn, trở thành nhu cầu thiết yếu cho các không gian đường phố, quảng trường hay công viên…

Vấn đề chiếu sáng công trình, đô thị, các khu ngoại ô, trước đây cũng đã được nghiên cứu, song thật sự chưa được ứng dụng phù hợp giữa kiến trúc và cảnh quan. Hầu như mới chỉ được chú trọng trong việc chiếu sáng giao thông cho tuyến phố hoặc bố trí cho các công trình trọng điểm, chủ yếu là những không gian giải trí. Nguyên nhân một phần do các thiết bị chiếu sáng được sản xuất bằng vật liệu hoặc công nghệ cũ, tiêu tốn điện năng, trong khi cần phải tiết kiệm năng lượng cho tương lai. Điều này vô tình dẫn đến việc tạo ra nhiều khoảng thiếu sáng cho không gian kiến trúc vào đêm.

Một số hình ảnh chiếu sáng công trình

Bên cạnh đó, về vai trò thiết kế kiến trúc, cũng phải nhìn nhận là chúng ta chưa chú trọng chiếu sáng đô thị, nhu cầu sử dụng nhiều khi không được tính tới. Các không gian vườn hoa, vui chơi buồn cô quạnh từ sẩm tối tới đêm, nhiều thiết bị tạo sáng chỉ mang tính chỉ đường, còn yếu tố thẩm mỹ chưa được chạm tới. Một vài năm trước, thiết kế cảnh quan vườn hoa cũng đã thử nghiệm các nhóm đèn trang trí dạng pháo hoa ban đêm, ban ngày lại là các con “quái vật khổng lồ”, các phần đế của thiết bị thật xấu xí và bất cập. Các cây đèn rọi đường, công viên được sáng tạo hoa văn diêm dúa,… song cũng chỉ đáp ứng nhu cầu chiếu sáng đơn giản, không cá tính… Do vậy, ý tưởng chiếu sáng đô thị vẫn còn là những công việc dở dang.

Với các công trình kiến trúc, việc chiếu sáng khi tối trời và buổi đêm không chỉ còn là yếu tố bảo vệ mà cần đưa lên tầm thẩm mỹ kiến trúc. Ánh sáng lung linh, màu sắc làm dịu đi màn đêm tối thui, ngôi nhà trở nên huyền ảo, đẹp đẽ, một vẻ đẹp khác lạ vào ban ngày.

Đến đây, xin trở lại thêm vài đánh giá nhận diện về ánh sáng trên các đường phố Hà Nội.

Tại Hà Nội hiện nay cũng đã xuất hiện nhiều công trình mới xây dựng đã được chú ý phần chiếu sáng, chiếu sáng trang trí ngoại thất. Một ngôi nhà được làm đẹp không chỉ phần kiến trúc, mà còn là không gian ngoại thất cảnh quan, đó là cây xanh, hoa lá, là các chi tiết bổ trợ: Tường rào – cổng vào buổi sáng, là đèn chiếu sáng, đèn chiếu sáng trang trí khi vắng ánh sáng ban ngày.

Chiếu sáng ngoại thất – cảnh quan sẽ còn là chiếu sáng soi rọi công trình, trang hòang cho công trình lung linh, tạo hình ảnh sống động hơn. Ngày nay có nhiều thiết bị và các giải pháp để tạo ra hiệu quả thị giác ánh sáng cho kiến trúc.

Qua khảo sát cho thấy, yếu tố chiếu sáng vào ban đêm và tối chưa được “đồng đều”, tạo thành các vùng tối sáng không đều. Ánh sáng có chỗ chưa hài hòa, có nơi bị mờ nhạt, bị thời tiết chi phối. Trời mưa, trời ẩm, mùa đông, mùa hạ,… Màu sắc tương phản hay hài hòa hoặc làm ảnh hưởng tới cảnh quan.

Cũng qua quan sát của tác giả ở một số tuyến đường chính cho thấy, đại đa số công trình đều đồng nhất một kiểu chiếu hắt soi rọi công trình từ dưới lên mà chưa có sự “sáng tạo” để mỗi công trình một phong cách như một “cuộc chơi về ánh sáng”.

Việc nghiên cứu soi rọi cho sân vườn, cây, công trình sẽ phải cầu kỳ hơn chiếu sáng thông thường; nếu đưa ra các giải pháp chưa chuẩn, rất có thể tạo hiệu quả thị giác bị vi sai, khiến công trình trở nên bị hụt hẫng vào buổi tối.

Nhà thiết kế cảnh quan cũng nên có sự tương tác giữa chiếu sáng cho công trình và bên chiếu sáng cho đường phố, sự kết hợp giữa chủ đầu tư công trình và cơ quan quản lý đô thị (bộ phận nghiên cứu chiếu sáng đường phố)

Việc tạo nguồn sáng vào công trình không còn là cá nhân mà còn là sự cộng sinh giữa các công trình với nhau điều tiết độ sáng, tia sáng từ phố, đường tới công trình (công trình có nhu cầu được soi rọi), công trình tới công trình, nhằm tránh ảnh hưởng tới độ yên tĩnh không gian cho không gian tư nhân khác.

Một số hình ảnh chiếu sáng công trình

Độ chiếu sáng còn như một nét thư pháp được tạo ra từ ý đồ thiết kế của các chuyên gia tư vấn theo chuyên đề, theo xu thế, theo cấu tạo riêng của từng ngôi nhà, cũng có thể hiểu là sự nhận diện của từng đơn vị kiến trúc.

Chúng ta nghiên cứu cảnh quan – chiếu sáng dựa vào yếu tố thị giác mà phân loại theo:

  • Theo vùng không gian đường phố – chiếu sáng trang trí tuyến đường vườn hoa;
  • Theo màu, biến đổi theo thương hiệu: Rất hợp cho các công trình cao tầng đô thị;
  • Chiếu sáng còn là các banner, poster quảng cáo: Khu thương mại, phố đi bộ, mức độ ngắm nhìn được tự do, không bị hạn chế; cần tránh việc một màn hình led nổi lên thiếu chiếu sáng khác xung quanh làm tổn thương người tham gia giao thông, rất khó chịu;
  • Chiếu sáng bằng thiết bị tốt, xịn, dùng lazer sáng tạo trang trí;
  • Chiếu sáng mặt nhà khác các biển quảng cáo, trang trí các tiệm, cửa hàng;
  • Chiếu sáng đan xen lối đi, công trình, đèn trang trí:
    • Pha chiế;
    • Trang trí vệt sáng trên công trình là: Đèn áp tường, đèn lazer, vệt lazer tạo thành một line sáng;
    • Phương án triển khai: Trên đường đi, trên công trình, tổng thể quảng trường, các vị trí quét sáng như mảng, line, hình quét, chiếu sáng cơ bản có quét rọi;

Với các công nghệ và thiết bị hiện đại bây giờ, việc tổ chức cảnh quan chiếu sáng cho công trình kiến trúc – các không gian cây, cảnh quảng trường rất phong phú với:

  • Ánh sáng tia lazer, chùm quét trên mặt nhà;
  • Ánh sáng tạo hình ảnh lồng ghép vào công trình tạo thêm một cảnh quan lung linh đặc sắc;
  • Ánh sáng tia – chùm do đèn, thiết bị đèn tạo hiệu quả hình ảnh khối, không gian cho vườn, khu vui chơi, còn tạo cảnh quan bổ trợ cho không gian chính.

VD: Trong vườn, trên cây, tạo hình cây – quả – thú vật,… ;

Tuy nhiên, trong thực tế đã và đang còn một vài nơi chưa được hài hòa về bố cục chiếu sáng và vị trí ánh sáng. Đôi khi ánh sáng còn là hiệu quả đem lại từ các màn hình LED mang thông điệp, thông tin được nghiên cứu đặt tại quảng trường, các điểm giao thông, hoặc trên công trình thương mại, khi lắp đặt phải có nghiên cứu kỹ về hình thức, điểm thu hút thị giác sao cho an toàn (cho người tham gia giao thông, chống lóa cho các công trình gần xung quanh,…). Nếu không chú ý nghiên cứu kỹ, hậu quả sẽ lớn hơn hiệu quả thông tin.

VD: Bảng thông tin LED đoạn đầu dốc lối lên Bảo tàng lịch sử Việt Nam tới đường đi Trần Quang Khải, rất loá, để đúng điểm quay đầu xe, gây bất lợi giao thông.

Một ví dụ khác: Màn hình LED quảng cáo được đặt trên toà nhà Vinmex Khương Thượng, quá to, quá sáng sẽ làm ảnh hưởng rất nhiều tới chốt đèn giao thông của nút giao thông quan trọng…

Một số hình ảnh chiếu sáng công trình tại Phố đi bộ Hồ Gươm

Việc bố trí ánh sáng soi rọi công trình về ban tối, ngoài bảo vệ an ninh còn tạo cho phố một bộ mặt rất ảo, không có không gian đường phố nào giống nhau, đây chính là sự khác biệt phong phú dựa trên nguyên tắc thiết kế phục vụ của từng không gian – hay bề mặt ngoại thất của kiến trúc các công trình khác nhau, tạo ra cảnh quan khác nhau, trong khi phần chính – phần cứng nhắc vẫn được duy trì, đó là hệ thống chiếu sáng công cộng.

Chiếu sáng và ánh sáng công trình phải trở thành một khía cạnh nghiên cứu quan trọng của cảnh quan – ngoại thất.

KTS Cao Chí Hòang
Bộ môn Cơ sở Kiến trúc, Trường ĐH Kiến trúc Hà Nội
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 10-2021)

The post Chiếu sáng đô thị một phần của thiết kế ngoại thất – cảnh quan appeared first on Tạp chí Kiến trúc - Hội Kiến trúc sư Việt Nam.



from Tạp chí Kiến trúc – Hội Kiến trúc sư Việt Nam https://ift.tt/34a0Tke
Blog phát triển bởi https://tuvankientrucnha.blogspot.com/
Tìm kiếm đơn vị chuyên xây dựng công trình nhà ở Hà Nội https://thoxay.vn//

Thứ Hai, 3 tháng 1, 2022

Cây xanh đường phố, từ hạ tầng kỹ thuật đến chiến lược hành lang sinh thái

Sự hiện diện của cây xanh đô thị trong ký ức và nhận thức của mỗi người có lẽ nhiều nhất ở những hàng cây trên đường phố. Với các đô thị ở xứ nhiệt đới Việt Nam chúng ta, thiết kế cây xanh trên đường phố gần như là điều hiển nhiên trong tư duy quản lý, phát triển đô thị qua nhiều thời kỳ do đặc điểm về môi trường khí hậu tương quan với tiện nghi nhiệt của con người. Bản thân người viết từng đi qua nhiều đô thị trên thế giới, kể cả những đô thị nổi tiếng về xanh, sinh thái cũng chưa chắc có hệ thống cây xanh đường phố xanh, đẹp, đặc trưng như ở các đô thị Việt Nam. Ví dụ như trường hợp TP. HCM, kể cả các chuyên gia người nước ngoài trong lĩnh vực kiến trúc, quy hoạch, thiết kế cảnh quan, thiết kế đô thị, khi đến đây hầu hết đều rất ấn tượng với những hàng cây đường phố đặc trưng này. Thậm chí vì chúng mà họ cũng đánh giá rất cao về tính sinh thái của TP. HCM, cho rằng đây là một TP xanh đúng nghĩa.

Đặc trưng đường phố Sài Gòn với hàng cây cao của rừng mưa nhiệt đới định hình bản sắc đô thị Sài Gòn – TPHCM được nhắc đến trong cuốn sách kinh điển về đô thị – Urban Transformation của Peter Bosselmann [a.19]

Theo Thông tư số 20/2005/TT-BXD ngày 20/12/2005 của Bộ Xây dựng – Hướng dẫn quản lý cây xanh đô thị thì cây xanh đô thị bao gồm:

  • Cây xanh sử dụng công cộng là tất cả các loại cây xanh được trồng trên đường phố và ở khu vực sở hữu công cộng (công viên, vườn thú, vườn hoa, vườn dạo, thảm cỏ tại dải phân làn, các đài tưởng niệm, quảng trường);
  • Cây xanh sử dụng hạn chế là tất cả các loại cây xanh trong các khu ở, các công sở, trường học, đình chùa, bệnh viện, nghĩa trang, công nghiệp, kho tàng, biệt thự, nhà vườn của các tổ chức, cá nhân;
  • Cây xanh chuyên dụng là các loại cây trong vườn ươm, cách ly, phòng hộ hoặc phục vụ nghiên cứu.

 Cây xanh đường phố: Từ câu chuyện hạ tầng kỹ thuật …

Hiện nay, cây xanh đường phố được xếp vào nhóm sử dụng công cộng trong đô thị nhưng chỉ tiêu đất cây xanh sử dụng công cộng lại chỉ tính theo chỉ số đất dùng để xây dựng công viên, vườn hoa công cộng. Quy định như vậy vừa bỏ qua giá trị liên kết sinh thái quan trọng của cây xanh đường phố, vừa thiếu động lực để phát triển loại hình cây xanh trong đô thị.

Nhiều phương tiện truyền thông đã đề cập rằng đất cây xanh trong khu trung tâm TP.HCM đang rất thiếu, song cảm nhận thực tế thì khu vực này lại “xanh” hơn rất nhiều so với những khu vực đô thị mới phát triển. Một ví dụ minh họa khá điển hình là trường hợp của quận 3 trong khu trung tâm TP. Theo ranh giới hành chính thì quận 3 không có công viên như quận 1 cạnh đó, vậy mà khảo sát từ ấn tượng của du khách thì quận 3 lại là một trong những quận “xanh” bậc nhất TP. Vì sao lại có nghịch lý này? – Đó chính là giá trị cảnh quan, sinh thái từ hệ thống cây xanh đường phố mà trải qua quá trình lịch sử, quận 3 đã tích lũy được một nguồn vốn cây xanh rất lớn, đa dạng, tạo ra một bầu không khí trong lành, xanh mát cho không gian đô thị.
Người ta hay lưu truyền câu nói rằng “ăn quận Năm, nằm quận Ba, la cà quận Một” để ca ngợi những giá trị đô thị đặc trưng của ba khu vực tiêu biểu trong trung tâm lịch sử TPHCM. Theo người viết, có lẽ giá trị để quận 3 trở thành nơi ở lý tưởng không chỉ là ở đây nhiều nhà biệt thự là mơ ước về biểu tượng cho sự thịnh vượng, giàu có, mà chính là ở chỗ nơi đây không khí trong lành, con người sống chan hòa với cây xanh, tạo ra “phong thủy” tốt cho người lưu trú. Bản thân giá trị “phong thủy” của mạng lưới cây xanh đường phố ấy cần được lưu ý, bảo tồn và phát huy nó bằng các giải pháp thiết kế cảnh quan đô thị phù hợp, duy trì vị thế nơi chốn lý tưởng trong lòng TP.

Quận 3 “xanh” dù không có diện tích đất công viên

Xét từ khía cạnh ưu thế này của loại hình cây xanh đường phố, nên chăng cần đề xuất xây dựng tiêu chuẩn số lượng cây xanh thân gỗ trên đầu người, bao gồm cả cây xanh đường phố, cụ thể hơn về số lượng cây đại mộc, trung mộc và tiểu mộc. Việc này có thể làm nền tảng rõ ràng hơn cho việc phát huy trách nhiệm của người dân, từ phong trào trồng đến chăm sóc cây xanh nói chung, cũng như cho cây xanh đường phố nói riêng. Thậm chí, còn có thể cho phép các công dân xung phong đăng ký theo dõi, chăm sóc một hoặc một vài địa chỉ cây xanh cụ thể, để làm nguồn lực hỗ trợ cho chính quyền trong việc quản lý, phát triển mảng xanh sinh thái, từ khi bắt đầu trồng, đến chăm sóc bảo dưỡng hàng ngày, hàng tháng, hàng năm, đến khi cần phải “chữa bệnh” hoặc phải đốn hạ để trồng thay cây khác. Như vậy, chúng ta cũng có thể phát huy nguồn lực để phát triển mảng xanh đô thị, đặc biệt là cây xanh đường phố trên bình diện chung.

Thứ hai, việc trồng cây xanh dọc đường phố là cơ hội cho loại hình cảnh quan dạng trục tuyến, vốn phân bổ xuyên suốt các khu vực chứ không chỉ riêng loại hình tập trung ở một khu vực như công viên, vườn hoa. Và tuyến trục cây xanh cảnh quan này sẽ đóng vai trò là tuyến liên kết sinh thái liên tục, tạo thành những đường mái vòm xanh cho con người và phát triển hệ sinh thái đô thị.

Thứ ba là mối liên hệ giữa cây xanh đường phố với các hệ thống hạ tầng kỹ thuật của TP. Thành tựu ngầm hóa hệ thống điện, thông tin liên lạc của TP nhiều năm qua rất đáng ghi nhận, song cũng cần tìm ra giải pháp để ứng xử với các rễ cây cao lâu năm của TP. Có thể nói, cây có không gian sở hữu riêng trên cao và cả dưới lòng đất mà trong thuật ngữ về cây xanh khoảng là khoảng “drip-line”, đường chiếu của tán cây xuống bề mặt vỉa hè mà đúng ra là không được xâm phạm.

Xét riêng ở TP. HCM thì cây xanh đường phố có trước khi có lát vỉa hè cứng, có trước hệ thống điện, nước, thông tin liên lạc, có trước cả tường rào của một số khu vực kiến trúc. Vậy thì, toàn bộ không gian vỉa hè trước đây vốn toàn bộ là của cây xanh, nay thì bị lùi lại, cắt giảm bớt mà không hề có khoản “đền bù giải tỏa” nào. Rễ cây vốn đang tỏa tròn, bám chặt vào lòng đất, đất tơi xốp dễ thấm nước (do chưa có bị bê tông hóa vỉa hè, chưa có nhiều phương tiện giao thông đi lại nén chặt đất), lại được nước mưa cung ứng thoải mái, cành tán cũng không bị vướng với những công trình cao tầng xung quanh. Các cây trồng sau giai đoạn bùng nổ phát triển đô thị hóa sẽ rất khó có điều kiện phát triển tốt, mạnh như trước đây. Đất bị nén chặt, nước mặt bị phân tán vào hệ thống cống cứng, mực nước ngầm sụt giảm, tính liên kết hệ thống từng như rừng nay cũng không còn.

Hiện nay, tiêu chuẩn của Việt Nam chúng ta vẫn cho trồng cây bên trên hệ thống đường ống hạ tầng kỹ thuật với điều kiện đảm bảo khoảng cách: “Cây xanh được trồng cách mạng lưới đường dây, đường ống kỹ thuật (cấp nước, thoát nước, cáp ngầm) từ 1m – 2m”. Khoảng cách là phù hợp, song vẫn cần có tiêu chuẩn và hướng dẫn cụ thể hơn để tạo điều kiện tốt cho cây phát triển như một hệ thống sinh thái bền vững.

Ngoài các cây xanh vỉa hè vốn có được cải tạo lại trong quá trình phát triển, các khu vực đô thị mới cũng dành cho cây xanh một khoảng không phát triển rất hạn hẹp. Vỉa hè loại lớn cỡ 6-8m như ở các trục đường chính trước đây như Nguyễn Huệ, Lê Lợi, 3 tháng 2… giờ đây rất hiếm.

Vì lý do tấc đất, tấc vàng, các vỉa hè mới sau này chỉ được thiết kế với bề rộng 3-4m. Vậy thì có bao nhiêu khoảng không dành cho cây xanh? – Câu trả lời là: Rất ít. Hình minh họa ở khu đô thị Vinhomes Golden River (Ba Son), vỉa hè chỉ dành cho vệt cây xanh rất hẹp, mà lại trồng những cây bứng sẵn, đường kính gốc lên tới 30 – 40cm. Điều này rất hạn chế sự phát triển của cây trong tương lai. Thậm chí có dự án mới vẫn chấp nhận việc có những cây xanh phải trồng phía trên đường ống thoát nước đô thị (dù có cách khoảng đệm đất cát) để dành diện tích cho việc xây công trình đem lại lợi nhuận kinh doanh.

Cây xanh cần khoảng không gian ngầm cho rễ phát triển và liên kết thành hệ thống sinh thái

Việc quy hoạch không gian ngầm hiện chỉ tập trung chủ yếu vào các công trình kiến trúc ngầm, còn hệ thống hạ tầng ngầm chưa được hệ thống hóa và hợp nhất theo hướng có tính toán đến sự phát triển sinh thái của cây xanh đường phố. Cụ thể, đối với tương quan giữa cây xanh đường phố với hệ thống hạ tầng ngầm như sau:

  • Hệ thống đường ống hạ tầng kỹ thuật ngầm nên được thiết kế tích hợp bên dưới lòng đường giao thông cơ giới thay vì bên dưới vỉa hè đối với những tuyến đường phù hợp.
  • Bố trí hệ thống ống hạ tầng kỹ thuật ngầm trong phần diện tích song song với vệt xanh sinh thái của cây xanh đường phố.
Cây xanh cần khoảng không gian ngầm cho rễ phát triển và liên kết thành hệ thống sinh thái
Hướng dẫn trồng cây xanh vỉa hè hiện nay của TP. HCM

Đến những giải pháp chiến lược xây dựng hành lang sinh thái

Không gian dành cho cây xanh đường phố từ giai đoạn đầu phát triển đô thị

Xuất phát từ thực trạng cây xanh đường phố ở các đô thị Việt Nam, người viết đề xuất một số giải pháp như sau:

1. Ở tầm chính sách chung

  • Đề nghị quy chuẩn hoạch định vệt cây xanh sinh thái tối thiểu là 1,5m bề rộng trên mặt cắt ngang vỉa hè. Trường hợp cây trồng bồn riêng lẻ cũng cần phải đảm bảo kích thước tối thiểu là 1,5m x 1,5m và nên duy trì giải pháp ốp lát “mềm” (dùng các loại gạch tự chèn) trong phần vệt nối các ô trồng cây;
  • Quy chuẩn hóa việc giằng chống cây xanh đường phố, bao gồm từ khi mới trồng đến khi trưởng thành, hoặc đến mức độ có nguy cơ, cần phải có biện pháp duy trì. Đồng thời, kết hợp với các giải pháp tạo thông khí, bơm tưới rễ, khuyến khích dùng mảng xanh hấp thụ nước mặt để tạo nguồn nước ngầm tốt hơn cung cấp cho cây;
  • Cần có loại hình thiết kế cảnh quan trục đường phố, đặc biệt với các tuyến trục quan trọng nhằm đảm bảo tính chi tiết, hài hòa và khả thi trong giải pháp cụ thể cho riêng từng khu vực. Thực tế là các dự án đầu tư xây dựng liên quan đến vỉa hè, đường xá hiện nay lại chủ yếu dựa trên thiết kế điển hình, vốn chưa đủ tính bao quát và cũng chưa tính nhiều đến đặc tính sinh thái quan trọng của loại hình cây xanh đường phố.
Định hướng giải pháp chung sống hài hòa giữa cây xanh và hạ tầng kỹ thuật đô thị cần bàn tay của người nhạc trưởng thiết kế (nguồn: NACTO)
Định hướng tổ chức dải cây xanh tương ứng với chiều rộng vỉa hè (NACTO)
Thông số tương quan giữa tán lá cây với không gian dành cho rễ cây và hướng dẫn trồng cây vỉa hè theo tiêu chuẩn Cây xanh đô thị của Đức (nguồn: a.1)

2. Ở quy mô tổng thể thành phố

Đề xuất nghiên cứu định hướng phân loại tính chất kiến trúc cảnh quan tổng thể các loại đường phố trong khu trung tâm hiện hữu và các khu vực phát triển đô thị, từ đó lựa chọn chủng loại cây xanh phù hợp tương ứng. Kinh nghiệm ở Singapore (chia thành 4 loại hình thái cây trồng dọc đường phố, bao gồm đường đô thị, đường nông thôn, đường ven biển, đường ven rừng), Philadelphia (phân loại theo tính chất công năng của đường phố và phân cấp đường trong đô thị) hay nhiều đô thị khác… nên được đúc kết để vận dụng vào bối cảnh của TP. HCM.

3. Ở mức độ chi tiết thiết kế cảnh quan cây xanh đường phố

  • Cần phát động các đơn vị nghiên cứu kiến trúc chủ trì biên soạn và thiết kế bộ tiêu chuẩn hoặc hướng dẫn thiết kế vỉa hè, đảm bảo hài hòa giữa kiến trúc cảnh quan cây xanh và hạ tầng kỹ thuật đô thị, theo quy mô kích thước mặt cắt đường, các giao lộ, cũng như các đặc điểm tính chất văn hóa, xã hội, kinh tế của các khu vực đô thị cụ thể;
  • Cập nhật điển hình hóa thiết kế trồng cây xanh, đảm bảo phù hợp với đặc tính liên kết sinh thái của cây xanh đường phố;
  • Ngoài các giải pháp trồng cây xanh kiểu truyền thống, việc học tập kinh nghiệm phát triển mảng xanh sinh thái chống ngập hoặc khi có mưa bão lớn cũng có thể là cơ hội bổ sung mảng xanh dạng “vườn mưa” (chỉ khi có mưa mới ngập nước còn bình thường là vườn cây) dọc theo các tuyến đường giao thông.
Giải pháp cải tạo nâng cao tính sinh thái và thân thiện của đô thị
bằng cây xanh đường phố (NACTO)

Thay lời kết

Hy vọng bài viết này sẽ góp một góc nhìn từ KTS cảnh quan để cùng nhau làm rõ về vai trò chiến lược của cây xanh đường phố. Chúng ta sẽ cùng nhau nhìn về một hướng, một tương lai xanh tươi và bền vững cho các đô thị, bắt đầu từ việc thiết kế và trồng cây xanh trên đường phố.

Giải pháp vườn mưa chống ngập vỉa hè

TS.KTS. Vũ Việt Anh
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 10-2021)


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Astrid Zimmermann (2011), Constructing Landscape: Materials, Techniques, Structural Components 2nd Edition, Birkhauser;
2. Bộ Xây dựng (2005), Thông tư số 20/2005/TT-BXD ngày 20/12/2005 của Bộ Xây dựng Hướng dẫn quản lý cây xanh đô thị, Hà Nội;
3. Bộ Xây dựng (2009), Thông tư số 20/2009/TT-BXD về sửa đổi, bổ sung Thông tư số 20/2005/TT-BXD ngày 20/12/2005 của Bộ Xây dựng Hướng dẫn quản lý cây xanh đô thị, Hà Nội;
4. Philadelphia Mayor Office of Transportation and Utilities (2017), Philadelphia Complete Streets Design Handbook, Philadelphia;
5. Viện Kiến trúc, Quy hoạch đô thị và nông thôn – Bộ Xây dựng (2009), TCVN8270:2009 – Quy hoạch cây xanh sử dụng hạn chế và chuyên dụng trong đô thị – Tiêu chuẩn thiết kế, Hà Nội;
6. Viện Kiến trúc, Quy hoạch đô thị và nông thôn – Bộ Xây dựng (2009), TCVN9257:2012 – – Quy hoạch cây xanh sử dụng công cộng trong các đô thị – Tiêu chuẩn thiết kế, Hà Nội;
7. Daniel G. Parolek, Karen Parolek, Paul C. Crawford (2008), Form-Based Codes – A Guide for Planners, Urban Designers, Municipalities, and Developers, John Wiley & Sons, Inc;
8. Daniel A. Bell, Avner De-Shalit (2011), The Spirit of Cities: Why the Identity of a City Matters in a Global Age, Princeton University Press;
9. Donald Watson, Alan Plattus, Rober G.Shibley (2001), Time-saver standards for Urban Design, by McGraw-Hill, New York – Chicago – San Francisco – Lisbon – London – Madrid – Mexico City – Milan – New Delhi – San Yuan – Seoul – Singapore – Sydney – Toronto;
10. Erie Downtown Streetscape Master Plan, Pennsylvania, https://ift.tt/3zmNHUA;
11. G. Z. Brown and Mark Dekay (2000), Sun, Wind & Light – Architecture Design Strategies, John Wiley & Sons, INC;
12. Global Designing Cities Initiative (2019), Global Street Design Guide, Island Press, https://ift.tt/34bmDw9, 09/02/2019;
13. National Association of City Transportation Officials (NACTO), Urban Street Design Guide, https://ift.tt/3znez7i, 09/02/2019;
14. Heng Chye Kiang, Low Boon Liang and Hee Limin (2009), On Asia Streets And Public Space – Selected Essays From Great Asia Streets Symposiums [GASS] 1&2, By Centre for Advance Studies in Architecture (CASA), Department of Architecture, National University of Singapore;
15. Leonard J. Hopper (2007), Landscape Architectural Graphic Standards, John Wiley and Sons, Inc, Canada;
16. Peter Bosselmann (2008), Urban Transformation – Understanding City Design and Form, Island Press;
17. Peter Wohlleben (2019), Đời sống bí ẩn của cây, NXB Phương Nam, TP. HCM;
18. Trần Hữu Quang (2012), Hạ tầng đô thị Sài Gòn buổi đầu, NXB Tổng hợp TP.HCM, TP.HCM

The post Cây xanh đường phố, từ hạ tầng kỹ thuật đến chiến lược hành lang sinh thái appeared first on Tạp chí Kiến trúc - Hội Kiến trúc sư Việt Nam.



from Tạp chí Kiến trúc – Hội Kiến trúc sư Việt Nam https://ift.tt/3EPhBSN
Blog phát triển bởi https://tuvankientrucnha.blogspot.com/
Tìm kiếm đơn vị chuyên xây dựng công trình nhà ở Hà Nội https://thoxay.vn//

Vai trò của thiết kế cảnh quan bề mặt với hiện tượng “đảo nhiệt đô thị”

Bối cảnh hiện nay

Quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng khiến mật độ công trình dày đặc đã tác động tiêu cực lên môi trường sinh thái. Những khu đất có cây trồng với khả năng thấm nước bị phá bỏ để xây dựng công trình và hạ tầng giao thông. Các bề mặt đô thị hầu hết được bao phủ bởi vật liệu không thấm nước với độ hấp thụ nhiệt cao đã dẫn đến nhiệt độ bề mặt và không khí tăng lên gây ra hiệu ứng “đảo nhiệt đô thị” (ĐNĐT). Đảo nhiệt đô thị (urban heat island) là hiện tượng các khu vực có công trình xây dựng có nhiệt độ cao hơn những vùng nông thôn xung quanh. Nhiệt độ chênh cao từ 1-30C vào buổi sáng và cao hơn đến 120C vào trưa hè [2].

Sự thay đổi gia tăng một vài độ tạo nên những khác biệt mang tính toàn cầu:

  • Tăng 1-20C: tác động lớn đến hệ sinh thái và sự đa dạng sinh học; gây sóng nhiệt, hạn hán, di cư hàng loạt, bệnh tật.
  • Tăng 2-30C: làm mất hệ sinh thái rạn san hô; tác động đến nông nghiệp, tài nguyên nước, sức khỏe.
  • Tăng 3-40C: tuyệt chủng các loài lớn, 20% dân số toàn cầu bị ảnh hưởng bởi lũ lụt, sụt giảm lương thực thực phẩm và tăng giá thực phẩm [10].

Theo Cục bảo vệ môi trường Hoa Kỳ (EPA), hiệu ứng ĐNĐT đã làm tăng tỷ lệ tử vong của người già, người bệnh và trẻ nhỏ. Việc gia tăng các ngày rất nóng đã làm mô hình bệnh tật đã thay đổi, các bệnh do sốc nóng và bệnh về đường hô hấp tăng lên làm mất năng suất lao động [4].

Theo dự báo đến năm 2030, độ che phủ đất đô thị có thể tăng lên gấp ba lần so với năm 2000 đặt ra nhiều thách thức để duy trì chất lượng môi trường [8]. Kết quả điều tra về quy mô và tỷ lệ các loại đất che phủ tại Hà Nội trong nghiên cứu ứng dụng GIS trong phân tích hiện tượng ĐNĐT cho thấy, tỷ lệ không gian xanh đô thị giảm từ 10601,16 ha (36,45%) xuống còn 2299,86 ha (7,91%) trong giai đoạn 2007 – 2017. Đây là sự thay đổi đáng lo ngại về độ che phủ của bề mặt và tỷ lệ cảnh quan đô thị [5]. Xác định vai trò và định hướng đúng đắn khi thiết kế cảnh quan bề mặt sẽ làm giảm đi hiện tượng ĐNĐT.

Định hướng thiết kế cảnh quan bề mặt đô thị

Liên quan đến vai trò của thiết kế cảnh quan (TKCQ) bề mặt với hiệu ứng “ĐNĐT, có thể phân loại bề mặt đô thị thành 2 loại: “Bề mặt mềm” và “Bề mặt cứng”. Bề mặt mềm được che phủ bởi các đối tượng hữu cơ tự nhiên có khả năng thấm hút nước (thảm thực vật, đất tự nhiên), là “vật liệu sống” (vật liệu mềm) cần được ưu tiên hàng đầu khi TKCQ [7]. Thứ hai là bề mặt lát hay bề mặt cứng (pavement), là bề mặt ngoài trời được bao phủ bởi vật liệu rắn, có kết cấu cứng với mục đích sử dụng lâu dài (mặt đường giao thông, đường dạo, vỉa hè, sân bãi, quảng trường) [3]. Bề mặt tự nhiên và bề mặt cứng là những yếu tố cần thiết của một TKCQ bề mặt tốt. Cần kết hợp giữa các vật liệu để có sản phẩm tốt khi TKCQ.

TKCQ bề mặt là việc xử lý đồ họa và chất liệu trên bề mặt để tạo ra các không gian chức năng thiết thực và đảm bảo thẩm mỹ. Nguyên nhân chủ yếu khiến ĐNĐT xảy ra là do sự chuyển đổi lớp đất bao phủ bề mặt, sự thay thế thảm thực vật tự nhiên và đất nông nghiệp bằng các bề mặt cứng không thấm nước liên quan đến sử dụng đất đô thị. Vì vậy, định hướng TKCQ bề mặt cần đảm bảo 5 tiêu chí sau:

  1. Cân bằng sinh thái: Cân bằng giữa các thành phần tự nhiên (bề mặt mềm) và nhân tạo (bề mặt cứng) trên mặt đất, giúp định hướng di chuyển cho con người bằng cách sắp xếp các loại vật liệu cứng, mềm. Đây là tiêu chí quan trọng nhất và được đặt lên hàng đầu để đảm bảo phát triển bền vững;
  2. Công năng sử dụng: Phân định không gian chức năng rõ ràng với các tính chất sử dụng khác nhau. Tạo bề mặt đáp ứng được thói quen hoạt động của con người, tùy thuộc vào tính chất sử dụng của khu vực thiết kế mà đưa ra giải pháp phân định những không gian tĩnh và động;
  3. Tính thẩm mỹ đô thị: Phối hợp tinh tế các hoa văn, chất liệu và màu sắc của các vật liệu bề mặt khác nhau nhằm đạt được sự thống nhất thành phần không gian đô thị. Tạo biểu tượng và đặc trưng nơi chốn cho bề mặt, biến các thành phần có trên bề mặt thành biểu tượng đô thị hoặc không gian đặc trưng cho khu vực thiết kế;
  4. Tính nhân văn: Tạo hệ thống định hướng cho người khuyết tật (người khiếm thị và người ngồi xe lăn). Thiết kế trên bề mặt ranh giới an toàn nhất, và có ít nguy hiểm nhất dành cho người sử dụng (không gian đi bộ, các tuyến di chuyển). Cấu trúc bề mặt sẽ có địa hình chuyên biệt, tạo ra hệ thống tín hiệu đặc thù cho người khuyết tật xe lăn, báo hướng di chuyển tối ưu nhất;
  5. Yêu cầu về hạ tầng kỹ thuật: Tạo độ dốc để điều chỉnh dòng nước mưa, ngăn không cho dòng nước mưa chảy vào đường thoát nước sinh hoạt và tạo ra những “hốc tự nhiên” được bao phủ bởi cỏ để giữ lại, tích lũy nước mưa và làm tăng lên sinh khối thực vật trên bề mặt.
Hình 1: TKCQ bề mặt đảm bảo các tiêu chí để đem lại cân bằng sinh thái đô thị

Tóm lại, các thành phần tự nhiên (cỏ, cây cối, nước) cần được tích hợp trong thiết kế bề mặt nhiều nhất có thể để tránh nhiệt độ môi trường bị nóng lên quá mức, giúp giảm đi ĐNĐT [Hình 1].

Sử dụng vật liệu bề mặt cứng nhằm làm giảm đảo nhiệt đô thị

Lựa chọn vật liệu lát phù hợp sẽ làm mát môi trường đô thị ngay cả trong mùa nóng. Chỉ số albelo là một công cụ hữu ích trong việc giảm bớt nhiệt độ của bề mặt trong ĐNĐT, giúp xác định mức độ bức xạ mặt trời được hấp thụ với thang chỉ số từ 0 (tối màu) đến 1 (sáng màu). Một số giải pháp chung về sử dụng vật liệu bề mặt có thể giảm nhẹ đảo nhiệt:

  • Dùng vật liệu có bề mặt sáng màu (phản xạ nhiệt) thay vì tối màu (hấp thụ nhiệt);
  • Giảm tối thiểu diện tích lát nền và diện tích tạo hình công trình xây dựng;
  • Dùng vật liệu lát nền tự thấm;
  • Dùng vật liệu lát nền có khả năng phản xạ;
  • Dùng vật liệu dẫn nhiệt thấp, tránh dùng vật liệu lát bằng kim loại mà nên dùng gỗ;
  • Tránh bề mặt nhẵn có độ dẫn nhiệt cao, nên chọn bề mặt nhám như sỏi hoặc đá nghiền nhỏ, ưu tiên dùng đá khối lập phương chẻ hoặc răng cưa;
  • Tránh dùng vật liệu lát nền dày với khả năng giữ nhiệt cao [4].

Các giải pháp TKCQ cụ thể được đề xuất áp dụng với từng đối tượng không gian của bề mặt cứng như sau:

  • Mặt đường giao thông: Mặt đường hiện nay chủ yếu được bao phủ bởi bê tông nhựa asphalt màu đen. Bề mặt asphalt mới hoàn thiện có chỉ số albedo là 0.05, còn asphalt lâu ngày là 0.1 với lượng hấp thu nhiệt rất lớn nên rất nóng trong những ngày hè. Ở Los Angeles (Mỹ), những con đường nhựa đen được thay bằng lớp sơn trắng, còn gọi là “làm sáng đường phố” [6]. Cần trồng những cây có tán lớn trên vỉa hè sẽ tạo bóng và làm mát cho mặt đường [Hình 2].
Hình 2: Đường sơn màu trắng ở Los Angeles làm giảm nhiệt độ bề mặt từ 5-80C
  • Vỉa hè: Nên sử dụng lớp lát nền mặt thấm (porous pavior), như: bê tông khối tự thấm, gạch đất sét lát nền tự thấm, đá dăm tự thấm, đá dăm kết kính bằng keo resin tự thấm, bê tông thô [9] để làm mát bề mặt thông qua sự bốc hơi từ vật liệu ngấm nước, giải tỏa bớt áp lực lên hệ thống cống thoát nướcvà bảo vệ mực nước ngầm. Tích hợp các mảng xanh trên vỉa hè. Vỉa hè có nhiệt độ thấp hơn sẽ góp phần làm giảm nhiệt độ không khí đô thị đáng kể vì chiếm phần lớn diện tích của bề mặt [Hình 3].
Hình 3: Bề mặt vỉa hè là những đường thẳng gấp khúc và được tích hợp các mảng xanh khác với lối thiết kế trực giao truyền thống (Mỹ) (hình trái), Hình 4: Đường dạo ở công viên Atlantique (Pháp) với đá xen lẫn rãnh cỏ giao cắt ngẫu nhiên phỏng theo bóng của cành cây đổ xuống mặt đường (hình phải)
  • Đường dạo: Nên kết hợp các rãnh cỏ hút nước trên bề mặt lát đá hoặc bê tông, vừa giúp tăng tính thẩm mỹ, vừa tránh sự nhàm chán cho người đi bộ. Xu hướng hiện nay là bề mặt bằng phẳng và nhẵn để tránh bị vấp ngã. Nên dùng lớp lát nền linh hoạt cho đường dạo vì không phải chịu tải trọng lớn trên bề mặt như: Đá cuội sông, gạch, đá, tấm bê tông đúc sẵn. Tránh lát nền cứng với lót lớp bê tông không cần thiết. Ở Anh, người ta thường lát nền trên một lớp vữa xi măng với phần nền bên dưới bằng bê tông. Phương pháp này không cần thiết, không thẩm mỹ và thường tạo ra những vết nứt, tích nhiệt, làm trầm trọng hơn hiệu ứng ĐNĐT [6]. Ưu tiên dùng vật liệu có sẵn tại địa phương để giảm chi phí vận chuyển [Hình 4].
  • Quảng trường: Ưu tiên dùng vật liệu màu sáng và kết cấu mịn ở khu vực tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng. Dùng vật liệu tối màu ở những khu vực dưới bóng râm và kết hợp với yếu tố nước. Nghiên cứu chỉ ra rằng, sự hiện diện của nước trên bề mặt sẽ làm giảm đi đáng kể nhiệt độ bề mặt của vật liệu, ngay cả bề mặt tối màu [1] [Hình 5].
Hình 5: Quảng trường Vanke Cloud City (Trung Quốc) với vật liệu bề mặt là sự đá tự nhiên xen kẽ bê tông nhằm làm mát bề mặt và giảm chi phí xây dựng
  • Các loại hình sân bãi khác
    • Sân chơi trẻ em: Bề mặt được sử dụng phổ biến là cao su với màu sắc vui nhộn, hấp dẫn trẻ em, nhưng phù hợp với thời tiết nắng nóng ở Việt Nam vì độ hấp thu nhiệt rất lớn. Ở Úc, nhiệt độ ngoài trời ở sân chơi trẻ em bằng cao su đo được lên tới 800C – 1000C [11] [Hình 6]. Giải pháp ưu việt hơn để thay thế đó là nền cỏ, cát mịn hoặc gỗ (ván gỗ hoặc sợi gỗ wood fiber) [Hình 7];
    • Sân thể thao: Mặt sân thể thao bao gồm cỏ nhựa và vật liệu lát nền màu sáng;
    • Bãi đỗ xe: Nên lát nền bằng các ô bê tông đan xen cỏ để hấp thu và lọc khí thải từ xe và làm mát bề mặt [6]. Cần tạo hướng dốc thoát nước mưa cho bề mặt với ưu tiên sử dụng các giải pháp sinh thái;
Hình 6: Sân chơi nền cao su (Úc) được nhìn bằng mắt người so với máy ảnh cảm biến nhiệt
Hình 7: Sân chơi trẻ em bằng gỗ sợi (Mỹ) gần gũi với thiên nhiên

Kết luận

TKCQ bề mặt với việc sử dụng các vật liệu lát nền có vai trò không nhỏ và có liên quan trực tiếp đến sự tăng lên hay giảm đi hiệu ứng ĐNĐT. Việc định hướng thiết kế bề mặt cùng với việc sử dụng hợp lý các loại vật liệu khi thiết kế bề mặt cứng sẽ làm giảm ĐNĐT. Hiệu quả của việc làm giảm nhiệt độ bề mặt có thể thay đổi ở từng các không gian với quy mô khác nhau trong cảnh quan đô thị do ảnh hưởng của tốc độ gió, các đặc điểm bao che môi trường xung quanh (địa hình lồi lõm, cây bóng mát, các tòa nhà). Trong mọi trường hợp cần tận dụng nước, mảng cỏ, cây xanh, ưu tiên cây có tán tròn, tán lá rậm rạp để lọc bức xạ mặt trời chiếu xuống đất, làm mát không gian đô thị và góp phần làm giảm hiệu ứng “nhà kính” cũng như hiện tượng “đảo nhiệt đô thị”/.

TS. KTS Nguyễn Ngọc Nương
Trường Đại học Kiến trúc Đà Nẵng
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 10-2021)


Tài liệu tham khảo
1. Amira Nadhirah và cộng sự. Contributing factors of urban heat island- an investigation on surface temperature of ground surface materials in three plazas with different types of landscape settings: a case study of plazas in Putrajaya. Seminar Proceeding, UMRAN2012: GREEN WAVE, KAED, IIUM.
2. Buyantuyev A., Wu, J. Urban heat islands and landscape heterogeneity: Linking spatiotemporal variations in surface temperatures to land-cover and socioeconomic patterns. Landsc. Ecol. 2010, 25, 17–33.
3. Booth N. K. Basic elements of landscape architectural design. Elsevier Science Publishing. 1993, 170.
4. Holden R., Liversedge J. Construction for landscape architecture. Laurence King Publish. ISBN 9781856697088. 2011, 6, 11, 144.
5. Lê Minh Tuấn và cộng sự. Case study of GIS Application in Analyzing Urban heating Island Phenomena in Tropical Climate Country; IOP Conf. Series: Materials Science and Engineering. -2019. -Vol. 661. 012090.
6. Los Angeles Is Painting the Streets White (Again), and Your City Might Be Next. 2018. https://ift.tt/2r586uE.
7. Nefedov V. A., Urban landscape design. Saint Petersburg Publish. 2012, 72.
8. Seto, K. C., Güneralp, B., & Hutyra, L. R. Global forecasts of urban expansion to 2030 and direct impacts on biodiversity and carbon pools. Proceedings of the National Academy of Sciences of the United States of America. 2012, 109(40), 16083–16088. https://ift.tt/2Er5QIb pnas.1211658109.
9. Siti Halipah Ibrahim và cộng sự. The Impact of Road Pavement on Urban Heat Island (UHI) Phenomenon. International Journal of Technology (2018) 8: 1597-1608 ISSN 2086-9614.
10. Tài liệu hội thảo “Trao đổi chuyên môn về biến đổi khí hậu và quy hoạch đô thị, xây dựng tại địa phương”. Mô-đun 1: Tìm hiểu về biến đổi khí hậu và tác động của khí hậu tại địa phương. 2016, 29.
11. Untouchable playgrounds: urban heat and the future of Western Sydney.2021. https://ift.tt/3FS99mW

The post Vai trò của thiết kế cảnh quan bề mặt với hiện tượng “đảo nhiệt đô thị” appeared first on Tạp chí Kiến trúc - Hội Kiến trúc sư Việt Nam.



from Tạp chí Kiến trúc – Hội Kiến trúc sư Việt Nam https://ift.tt/3ziJOAl
Blog phát triển bởi https://tuvankientrucnha.blogspot.com/
Tìm kiếm đơn vị chuyên xây dựng công trình nhà ở Hà Nội https://thoxay.vn//

Căn hộ BooYoung – Đơn giản mà lịch sự trong thiết kế, bền vững trong sử dụng

Trái ngược với cuộc sống sô bồ, tấp nập, nhiều gia chủ mong muốn không gian ở của mình càng tối giản càng tốt. Gia chủ của căn hộ Boo Young do 10 Design thiết kế cũng là một người như vậy. Và 10 Design đã thiết kế căn hộ Boo Young đơn giản nhưng lịch sự, thoả mãn hết những yêu cầu của gia chủ.

Trong thiết kế, có một câu nói rất phổ biến “Simple is not simple” – Đơn giản không hề đơn giản. Điều đó càng đúng hơn với các công trình có diện tích hạn chế, đặc biệt là các công trình chung cư. Đây là không gian ở có diện tích giới hạn, ít có khả năng cơi nới hay có nhiều hạn chế trong việc thay đổi các kết cấu có sẵn của toà nhà, nhưng phải đáp ứng các yêu cầu công năng cần thiết của một hộ gia đình.

Tuy nhiên, với kinh nghiệm thiết kế phong phú, nghiên cứu kỹ lưỡng trước khi đưa ra các phương án và tích cực trao đổi để thấu hiểu những mong muốn của khách hàng, chúng tôi đã có những thiết kế của Boo Young làm hài lòng gia chủ, với những đặc điểm nổi bật:

Thiết kế giản dị nhưng lịch sự, tinh tế

Màu sắc chủ đạo trong thiết kế căn hộ Boo Young là tone nâu và nâu gỗ nhẹ nhàng, đem lại cảm giác ấm áp, gần gũi trong một không gian ở. Mở cửa bước vào, đầu tiên sẽ là không gian sinh hoạt chung, với khoảng bếp hiện đại, gồm khu vực nấu ăn và bộ bàn ăn điểm nhấn kiểu Nhật được làm bằng gỗ, bo tròn mép, kê liền tường trông rất lạ mắt. Tiếp nối khu vực bếp là khu vực tiếp khách, có view thành phố, được bố trí một bộ sofa thiết kế, đơn giản nhưng độc đáo kết hợp với bộ kệ ti vi có đèn hắt sáng. Điểm nhấn của không gian này là các mảng tường nâu kết hợp giấy dán tường xám. Gia chủ cũng có thể treo thêm vài bức tranh yêu thích cho không gian này. Ngoài ra, ở đây, 10 Design để một khoảng nhỏ làm không gian thờ cúng cho gia chủ.

Phòng ngủ cũng được thiết kế với những mảng tường sơn nâu kết hợp giấy dán tường xám trắng và những đồ nội thất bằng gỗ công nghiệp. Phòng ngủ chính có thêm một ban công nhỏ xinh để thư giãn sau những mệt mỏi căng thẳng của công việc, trồng thêm vài cây xương rồng, đem lại cảm giác cây xanh nhưng cũng không quá khó chăm sóc đối với những gia chủ bận rộn.

Tối ưu không gian nhưng thoả mãn yêu cầu về công năng

Dạo một vòng căn hộ, có thể thấy gia chủ rất ưu chuộng việc có những không gian rộng rãi, thoáng đãng. Chính vì vậy, thiết kế được chú trọng đến việc tối giản hoặc lồng ghép các chức năng trong căn hộ. Như bộ bàn ăn phòng bếp, được bố trí liền tường, giảm thiểu được chi phí sản xuất của một nửa số ghế, tiết kiệm được không gian chết khi bố trí rời, nhưng lại cực kỳ hút mắt. Hay các dạng kệ tủ được thiết kế dạng nội thất thông minh, có thể lồng ghép nhiều chức năng trong quá trình sử dụng.

Tiết kiệm chi phí và bền vững trong quá trình sử dụng

Một điểm cộng nữa cho thiết kế là tiết kiệm chi phí nhưng vẫn đem lại giá trị sử dụng cao. Căn hộ được sử dụng chủ yếu bằng các vật liệu phổ biến trên thị trường như giấy gián tường, gỗ công nghiệp, đảm bảo về chất lượng và được chúng tôi tự gia công, sản xuất, với đội ngũ thợ lành nghề, uy tín.

Gia chủ là người bận rộn, nên các đồ dùng cũng được thiết kế gọn nhẹ, hạn chế phải bảo dưỡng, sửa chữa. Cây xanh được chọn là các loại cây xương rồng dễ sống và ít có côn trùng.

Thông tin công trình

  • Tên công trình: Căn hộ BooYoung
  • Đơn vị thiết kế: 10Design
  • Địa chỉ: Mỗ Lao, Hà Đông
  • Năm: 2021

Xem thêm các hình ảnh thiết kế của công trình:

Thu Vân – TCKT.VN
© Tạp chí Kiến trúc

The post Căn hộ BooYoung – Đơn giản mà lịch sự trong thiết kế, bền vững trong sử dụng appeared first on Tạp chí Kiến trúc - Hội Kiến trúc sư Việt Nam.



from Tạp chí Kiến trúc – Hội Kiến trúc sư Việt Nam https://ift.tt/3mThgIF
Blog phát triển bởi https://tuvankientrucnha.blogspot.com/
Tìm kiếm đơn vị chuyên xây dựng công trình nhà ở Hà Nội https://thoxay.vn//